Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

267 người đã tham gia bình chọn

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 5

  • Hôm nay 690

  • Tổng 3.511.166

Nhìn lại 7 năm thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật HĐND-UBND tại thành phố Đồng Hới

Xem với cỡ chữ : A- A A+
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của ra đời đã đánh dấu bước phát triển mới trong công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Nhìn lại 7 năm thi hành Luật, công tác xây dựng ban hành văn bản tại thành phố Đồng Hới có nhiều tiến bộ, số lượng, chất lượng, kỹ thuật xây dựng văn bản từng bước được nâng lên. Từ năm 2005-2011: Hội đồng nhân dân thành phố và xã, phường đã ban hành 794 Nghị quyết; Uỷ ban nhân dân ban hành 150 Quyết định; 27 Chỉ thị về các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các văn bản pháp luật hiện hành..

Trước thời điểm Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và Nghị định 135/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản; công tác xây dựng và ban hành văn bản còn lộn xộn, tuỳ tiện. Kỹ thuật xây dựng văn bản có nhiều sai sót, phần lớn ban hành văn bản  hành chính để điều hành do vậy hiệu quả thực thi không cao. Luật ban hành văn bản ra đời tạo lập khung pháp lý cho công tác văn bản. Công tác xây dựng thế chế, tổ chức bộ máy bước đầu được quan tâm củng cố kiện toàn.  Công tác xây  dựng, ban hành văn bản đã có nhiều tiến bộ. Các văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND ban hành đã kịp thời điều chỉnh một số quan hệ phát sinh, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước ở nhiều lĩnh vực, góp phần không nhỏ trong chỉ đạo điều hành, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.

Việc bảo đảm quy trình xây dựng VBQPPL của HĐND, UBND được quan tâm thực hiện, điều này được thể hiện qua  việc lập, thông qua chương trình hàng năm, qua việc lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức hữu quan, vào dự thảo văn bản QPPL, tuy nhiên việc tổ chức lấy ý kiến mới chỉ dừng trong phạm vi hẹp của các cơ quan. Chỉ một số dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết của HĐND, Quyết định, Chỉ thị của UBND thành phố) được gửi các cơ quan tham gia góp ý kiến. Việc thẩm định dự thảo văn bản trước khi ban hành đã góp phần tích cực để văn bản ban hành đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế ở địa phương.

Từ năm 2005 đến hết năm 2011, Phòng Tư pháp đã thực hiện thẩm định, tham gia góp ý 78dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, việc thẩm định cũng chưa đảm bảo theo như quy định tại Điều 38 của Luật ban hành văn bản QPPL HĐND, UBND mà chỉ ở cấp độ tham gia đóng góp ý kiến vào dự thảo văn bản do các cơ quan soạn thảo. Công tác thẩm tra dự thảo văn bản QPPL (Nghị quyết) do Ban của Hội đồng nhân dân đảm nhiệm. Văn bản dự thảo liên quan đến ban nào sẽ giao cho ban đó chịu trách nhiệm thẩm tra, báo cáo để trình trước kỳ họp; Vể trình tự thông qua, ban hành VBQPPL theo như quy định tại Điều 44 của Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND-UBND thì chưa thực hiện được.

Văn bản QPPL được niêm yết, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng như đăng tải vào trang website của Đồng Hới, đài truyền thanh đưa tin,  gửi cơ quan nhà nước cấp trên. Việc thực hiện các quy định của pháp luật về văn thư lưu trữ được quan tâm. Cơ sở vật chất bước đầu đáp ứng: Có phòng, tủ đựng hồ sơ. Công chức lưu trữ thành phố thuộc Phòng Nội vụ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ lưu trữ theo như quy định.

UBND thành phố đã ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý từ năm 2006 đến nay. Xây dựng trang thông tin điện tử, Trang điều hành tác nghiệp; nâng cấp trang website. Tuy vậy việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản, nhất là việc cập nhật các văn bản QPPL mới ban hành chưa được thường xuyên, kịp thời. Hệ thống mạng thông tin điện tử chưa đồng bộ, thông suốt. Do vậy, việc thu thập văn bản làm cơ sở cho công tác kiểm tra chủ yếu tập trung từ trang Web của Bộ, ngành Trung ương, Công báo.

Đánh giá chung về văn bản QPPL của HĐND, UBND  trên các mặt đó là :

a) Tính kịp thời: Văn bản QPPL do HĐND-UBND ban hành trong 7 năm qua đã kịp thời điều chỉnh một số vấn đề phát sinh trong quá trình chỉ đạo, điều hành. Điều ngày thể hiện qua việc chủ động xây dựng ban hành văn bản QPPL về các lĩnh vực để triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật và các chủ trương, chính sách của Đảng về các lĩnh vực như: Chính sách đối với người có công, trong quản lý đất đai, tài nguyên, vấn đề chứng thực, hộ tịch, an ninh, quốc phòng...

b)Tính hợp hiến, hợp pháp: Văn bản QPPL do HĐND-UBND thành phố  ban hành phần lớn phù hợp với pháp luật hiện hành, đảm bảo đúng về hình thức, nội dung và thẩm quyền; Tuy nhiên, một số quy định của Hiến pháp chưa được thể chế hoá thành luật pháp. Một số vấn đề chưa được Hiến pháp quy định do vậy còn vướng mắc, lúng túng trong quá trình thực hiện.

 c)Thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật: Văn bản QPPL do HĐND-UBND thành phố ban hành cơ bản thống nhất, đồng bộ bảo đảm thứ bậc hiệu lực pháp lý văn bản trong hệ thống pháp luật. Nghị quyết HĐND thành phố phù hợp với Nghị quyết HĐND tỉnh và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; Quyết định, Chỉ thị của UBND ngoài phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên còn phù hợp với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.

d)Tình phù hợp với thực tiễn: Văn bản QPPL do HĐND- UBND ban hành trong thời gian qua đã  phần nào đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình an ninh, chính trị, hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Mặc  dù công tác xây dựng, ban hành và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thời gian qua có bước  tiến bộ; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và khả năng tiếp cận công việc của đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện công tác kiểm tra văn bản được nâng lên. Tuy vậy, quá trình triển khai thực hiện các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 trên địa bàn thành phố có những vẫn còn những tồn tại, bất cập đó là:

Mâu thuẫn giữa trách nhiệm, quyền hạn được pháp luật quy định với điều kiện để thực hiện quyền hạn và trách nhiệm được giao. Đây là bất cập và tồn tại có tính bao trùm chủ yếu nhất.

Bất cập giữa yêu cầu xây dựng văn bản QPPL và năng lực soạn thảo, việc lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo chưa thực hiện nghiêm.Vấn còn lúng túng trong việc phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với văn bản thông thường.

 Việc thẩm định, thẩm tra chưa thực hiện thường xuyên. Trình tự xem xét thông qua dự thảo văn bản chưa thực hịên đúng quy định của luật. Đối với công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL nhiều cơ quan, ban ngành cho rằng thuộc trách nhiệm của cơ quan Tư pháp, do đó trong quá trình triển khai thực hiện đã gặp rất nhiều khó khăn. Một số địa phương chưa thực hiện gửi văn bản  để thực hiện việc kiểm tra theo thẩm quyền quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP của Chính phủ.

Việc niêm yết văn bản QPPL ở cấp xã không mấy hiệu quả, bởi lẽ chỉ khi có công việc có liên quan người dân mới đến trụ sở chính quyền, vì vậy văn bản vẫn được niêm yết nhưng lại rất ít người đọc.

Việc đưa tin trên phương tiện truyền thanh chỉ thực hiện một tháng một lần; Việc đăng tải vào trang website của thành phố tuy được thực hiện nhưng ở cơ sở phần lớn chưa kết nối internet, người dân còn nghèo và chưa có thói quen tra cứu, tìm hiểu thông tin qua các phương tiện truyền thông nên việc cập nhật thông tin còn hạn chế.

Nguyên nhân của sự tồn tại, vướng mắc một phần do những quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn chưa rõ ràng, khó hiểu, khó vận dụng;

Cùng lĩnh vực văn bản nhưng có hai Luật (Luật 2004; Luật 2008); hai Thông tư (số 55/2005/TTLT/BNV-VPCP;  s ố 01/2011/TT-BNV) điều chỉnh.

Một phần do các nguyên nhân từ thực tiễn:

Lãnh đạo một số ngành, UBND địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác văn bản pháp quy, một số ngành chưa thực hiện đúng quy trình, khi thực hiện thẩm định văn bản; cơ quan Tư pháp gặp khó khăn trong việc thu thập, rà soát văn bản nguồn.

Chưa quan tâm thu hút đội ngũ chuyên gia để xây dựng đội ngũ cộng tác viên kiểm tra văn bản từ nhiều ngành trong xã hội, điều này th hiện rất cụ thể qua việc Luật ban hành văn bản có hiệu lực đã hơn 7 năm nhưng vẫn chưa xây dựng được đội ngũ Cộng tác viên văn bản.

 Sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị trong công tác xây dựng, ban hành VBQPPL còn hình thức, thiếu chiều sâu; một số cơ quan do chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc tham gia đóng góp ý kiến vào văn bản nên còn làm chiếu lệ, việc gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền để kiểm tra có lúc, có nơi chưa thực hiện, chưa thực hiện chỉnh lý, xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật khi nhận được thông báo của cơ quan kiểm tra.

Cán bộ kiêm nhiệm, chưa có công chức chuyên sâu; trình độ, năng lực soạn thảo của những người làm công tác xây dựng văn bản còn hạn chế cả ở cấp thành phố và xã, phường. Công tác kiểm tra, rà soát văn bản  phải có cán bộ có trình độ chuyên sâu, có năng lực và khả năng xây dựng văn bản, nhưng cán bộ Tư pháp hiện tại  vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc.  Cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc chưa đáp ứng yêu cầu của công tác này.

Trước yêu cầu cần thiết của việc xây dựng một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, nâng cao tính  chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp và đẩy mạnh hiệu quả công tác văn bản, với những khó khăn, vướng mắc qua hơn 7 năm thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xin mạnh dạn đề xuất, kiến nghị:

Uỷ ban thường vụ Quốc hội nghiên cứu hợp nhất Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND năm 2004 và Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008 theo hướng: Hợp nhất những quy định chung về nguyên tắc, nội dung, trình tự, thủ tục, dành một chương riêng cho việc ban hành văn bản thuộc thẩm quyền HĐND-UBND.

 Bãi bỏ việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp xã. loại bỏ nội dung tại mục 3 chương IV: Trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành quyết định, chỉ thị của UBND cấp xã. Bố sung nội dung lập, thông qua và điều chỉnh chương trình xây dựng văn bản QPPL hàng năm. Luật hiện hành mới quy định cấp tỉnh lập chương trình xây dựng văn bản QPPL (Điều 21; Điều 35);  Cần quy định rõ định kỳ rà soát, hệ thống hoá văn bản QPPL của từng cấp,

Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ nghiên cứu sớm hợp nhất Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV và Thông tư số 01/2011/TT-BNV hướng dẫn  về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.

Đối với địa phương cần tập trung vào các nội dung sau:

- Kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ chuyên trách và xây dựng đội ngũ cộng tác viên, đổi mới phương thức làm việc theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp.

- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc, thiết lập cổng giao dịch thông tin điện tử kết nối Internet, ứng dụng tin học hóa trong hoạt động chuyên môn,

- Đảm bảo kinh phí xây dựng văn bản hàng năm. Quy định cụ thể trách nhiệm của từng cấp trong việc đảm bảo kinh phí cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hoá văn bản.

- Xây dựng thể chế, hoàn thiện các quy định chung về kiểm tra, xử lý, rà soát hệ thống hoá văn bản QPPL tăng cường sự quan tâm chỉ đạo và phối hợp của các cấp các ngành.

Hàng năm có kế hoạch tổ chức tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ cấp huyện, cấp xã. Tổ chức tọa đàm tại cơ sở, lắng nghe ý kiến cơ sở để kịp thời điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong thực tiễn để công tác này được thực hiện thống nhất, chất lượng cao./.

 

                                                                             Hoàng Hồng

Các tin khác